Categories

Recent Posts

Tags

.NET advice Architect C# Company Microsoft model

17 lời khuyên Google cho web doanh nghiệp

By hoang188 | July 29, 2008

Sau đây là những lời khuyên hữu ích dành cho chủ nhân các trang web khi sử dụng 3 công cụ của Google bao gồm: Analytics, AdSense, AdWords.

Từ một blogger chân ướt chân ráo bước vào thế giới online, đến một cá nhân sở hữu trang web từ nhiều năm, chắc hẳn ai cũng muốn hái ra tiền từ trang web của mình.
Với công cụ Google Analytics, bạn có thể dễ dàng theo dõi lưu lượng người truy cập cũng như các địa chỉ trỏ tới trang web. Google AdSense sẽ đặt những mẩu quảng cáo nhỏ có nội dung liên quan đến trang web của bạn. Bạn sẽ nhận được tiền sau mỗi cú click chuột của khách truy cập. Cuối cùng, Google AdWords cho phép bạn tuỳ biến quảng cáo, chọn từ khoá thích hợp, giúp trang web bạn thân thiện hơn với các công cụ tìm kiếm.
Google Analytics

1. Nắm vững những khái niệm cơ bản.
Visits là số lượng phiên truy cập vào trang web - số lần khách ghé thăm trang web.
Bounce Rate là tỷ lệ phần trăm khách vãng lai, những người chỉ vào xem trang đầu tiên rồi bỏ đi ngay.
Page View là số lần trang web được tải bởi trình duyệt.
Average Time on Site là thời gian trung bình khách truy cập lưu lại trên web.
% New Visits là số phiên truy cập - số lần ghé thăm trang web từ những vị khách mới.
2. Hiểu rõ nguồn lưu lượng.
Direct Traffic là lượng khách truy cập web trực tiếp bằng cách gõ địa chỉ web lên URL hoặc vào từ bookmark.
Referring URLs là những trang web chuyển lưu lượng khách truy cập đến trang của bạn, có thể là từ banner quảng cáo hoặc liên kết trực tiếp.
Search Engines: các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, MSN, v.v..
Other: các nguồn khác chẳng hạn như e-mail quảng cáo..v..v.
3. Quyết định báo cáo nào quan trọng nhất.
• Nhận xét xem xu hướng tăng trưởng bắt nguồn từ đâu trong khoảng từ 3 đến 6 tháng gần nhất. Từ những nguồn miễn phí hay có phí? Những nỗ lực để thu hút khách truy cập từ những nguồn khác đã thành công chưa?
• Đào sâu nghiên cứu những trang web, từ khoá, cụm từ khoá mang lại lượng khách truy cập lớn để nắm được tâm lý độc giả.
• Tăng cường chăm sóc, cải thiện những trang có chỉ số Bounce Rate cao.
• Đảm bảo rằng chiến dịch quảng cáo không làm tăng chỉ số Bounce Rate
• Xác định rõ những trang chủ chốt để tính toán đầu tư.
4. Đặt bản thân vào vị trí khách truy cập.
• Xem xét những liên kết thu hút nhiều cú click chuột.
• Thử vào liên kết đó và nghĩ xem người ta sẽ làm gì tiếp.
• Kiểm tra lượng người chuyển đến mỗi trang. Điều này giúp bạn hiểu rõ hơn chỉ số Bounce Rate.
5. Tập trung vào kết quả.
• Xác định những sự cải tiến cần thiết với trang web.
• Cân nhắc những cơ hội buôn bán.
• Trả lời câu hỏi: Tại sao trang web tồn tại? Sau đó đi qua 4 bước nói trên nhằm xác định những điểm mấu chốt để đánh giá kết quả.

Google AdSense
1. Trước tiên bạn cần có một trang web với nội dung chấp nhận được và địa chỉ URL hợp lệ. Sau đó hãy đăng ký một tài khoản AdSense.
2. Chắc chắn rằng sau khi đặt quảng cáo lên, giao diện trang web của bạn vẫn hấp dẫn. Cố gắng đừng để những mẩu quảng cáo trở nên lạc lõng trên trang web.
3. Đặt quảng cáo tại những vị trí tốt nhất trên web.
4. Tạo nhiều chuyên mục mới lạ, độc đáo. Những web có nội dung phong phú, chuyên mục mới lạ và thật nhiều trang sẽ có nhiều cơ hội dành cho quảng cáo hơn. Rõ ràng một web có 10 trang không thể kiếm được nhiều tiền bằng web có 50 - 500 trang.
5. Quảng bá trang web bằng cách gửi e-mail giới thiệu tới bạn bè và dẫn trang web của bạn tới tất cả các công cụ tìm kiếm để nội dung được đánh chỉ mục.

Google AdWords

1. Hiểu tâm lý độc giả.

Tính chính xác là chìa khoá tìm kiếm với những chương trình như Google AdWords. Bạn muốn hướng tới những độc giả nhất định vào thời điểm thích hợp. Hãy xem xét kỹ sản phẩm bạn rao bán, dịch vụ bạn cung cấp và khách hàng - những người có nhu cầu.
2. Xác định mục tiêu.

Một khi bạn có ý thức rõ ràng với công việc của mình, hãy tập trung vào việc làm cách nào để đến với khách hàng. Bạn cần nắm rõ đâu là mục tiêu tối thượng để đi tới thành công. Tổ chức từng chiến dịch dựa trên yếu tố đơn giản và hiệu quả, xác định rõ dòng sản phẩm chiến lược (cà phê, trà hay thiết bị máy móc), mục đích (mang tính thời vụ hay quảng bá)
3. Lựa chọn những từ khoá đắt giá.

Lựa chọn từ khoá là cả một nghệ thuật. Hãy lập một danh sách tất cả những từ khoá bạn nghĩ ra, rồi thu hẹp lựa chọn dần. Cố gắng đặt mình vào vị trí khách truy cập. Nghĩ xem những từ khoá nào tốt nhất và đặt cược vào nó để thu được tối đa hiệu quả.

4. Tạo những quảng cáo thật hấp dẫn.

Hãy làm những quảng cáo có sức hút, gây tò mò cho người xem, khiến họ cảm thấy cần phải click vào để tìm hiểu nhiều hơn. Thường thì trong một mẩu quảng cáo, bạn có 3 câu ngắn gọn để lôi kéo sự chú ý của người xem. Để tạo một quảng cáo hiệu quả, hãy thử những mẹo sau:
• Thêm từ khoá vào tiêu đề và phần mô tả.
• Truyền đạt những ưu điểm nổi bật của sản phẩm.
• Nhanh chóng đi vào trọng tâm.
• Dùng từ mang tính gợi mở hành động, chẳng hạn như “Click vào đây”, “Đăng ký ngay”
• Đặt liên kết trực tiếp tới trang web liên quan tới nội dung quảng cáo.
5. Hướng tới đúng nhóm đối tượng với quảng cáo phù hợp.

Một khi đã biết được những khách hàng tiềm năng, bạn có thể tập trung vào từng nhóm đối tượng cụ thể. Tạo những quảng cáo đa ngôn ngữ nếu bạn có chiến dịch quảng bá toàn cầu. Bạn cũng có thể nhắm tới từng khu vực riêng biệt theo vị trí địa lý, ví dụ như nơi doanh nghiệp bạn đang phục vụ.

6. Theo dõi chặt chẽ công việc.

Sau khi chiến dịch quảng bá đi vào giai đoạn thực hiện, hãy đánh giá hiệu quả thường xuyên. Theo dõi sát sao tất cả những chỉ số thống kê, báo cáo.
7. Cập nhật thường xuyên.

Duy trì đánh giá những kết quả bạn thu được. Ghi nhớ rằng phải không ngừng cải tiến, thử nghiệm những thứ mới mẻ. Đừng ngại thay đổi, đó là bí quyết thành công.

Linh V. (Theo PCMag.com)

(quantrimang.com)

Topics: Company, Howto, business | No Comments »

Thôn tính công ty mà không đả động đến cổ phiếu

By hoang188 | July 25, 2008

Sự xâm lược có thể bị chặn lại nhưng không thể biết được thời cơ của ai sẽ đến. Warren Buffet trở thành tỷ phú nhờ mua bán doanh nghiệp. Trùm bất động sản Mỹ - Donald Trump - phất lên nhờ sự "thôn tính" các khu đất vàng. Lời khuyên mà giới tỷ phú đưa ra là: Hãy tự hào về những gì bạn sở hữu.

 

Donald Trump cho rằng trước khi thôn tính một doanh nghiệp nào đó, câu hỏi đặt ra cần xuất phát từ chữ cái "M" đầu tiên - Công ty đó có ý nghĩa (Meaning) đối với bạn không? - bao gồm hai câu hỏi nhỏ: (1) Bạn có muốn sở hữu toàn bộ công ty không? (2) Bạn có hiểu đầy đủ về công ty đó đến mức muốn sở hữu toàn bộ nó hay không?

"Khi chuẩn bị mua một công ty lớn, tôi thường tự nhủ với chính mình rằng “Phil, nếu mua công ty này, ta sẽ sở hữu toàn bộ công ty đó và toàn bộ những gì nó có”. Tôi luôn nhắc đi nhắc lại câu nói này ngay cả khi tôi chỉ mua một phần nhỏ của công ty thông qua việc mua một ít cổ phiếu. Tất nhiên là có lý do chính đáng để học thuộc lòng câu thần chú đó. Nó khiến tôi suy nghĩ giống như một chủ sở hữu công ty chứ không phải một nhà đầu tư cổ phiếu - đây là điều rất quan trọng để trở thành nhà đầu tư theo Quy tắc số 1 thành công", ông nói.

Dưới đây là lời khuyên của Donald Trump:

Hãy tự hào về những gì bạn sở hữu

Nếu chúng ta mua công ty với tư cách là chủ sở hữu công ty chứ không phải người đầu cơ cổ phiếu thì việc đầu tư đó mang tính cá nhân. Tôi muốn khoản đầu tư của mình mang tính cá nhân. Tôi muốn tự hào về những gì mình sở hữu. Đây là một khởi đầu quan trọng để quyết định chúng ta nên đổ tiền vào đâu. Chúng ta đầu tư vào công ty nào, có nghĩa là chúng ta tán thành việc tiếp tục kinh doanh trong lĩnh vực đó, bất kể đó là lĩnh vực gì.

Ví dụ, nếu mua hãng Coca-Cola, chúng ta ngầm định rằng, chúng ta ủng hộ công ty đó. Thực ra, chúng ta đang hàm ý rằng, chúng ta muốn có các sản phẩm của Coke và muốn công việc kinh doanh của Coke tiếp tục phát triển mạnh. Còn nếu mua một công ty bóc lột sức lao động trẻ em tại một nước thế giới thứ ba, chúng ta lại đang ngầm ủng hộ hành động ấy. Có thể bạn chấp nhận điều đó, nhưng điểm mấu chốt ở đây là hãy sở hữu cái gì bạn có thể tự hào khi nói nó là của mình. Sự ủng hộ của chúng ta có thể không chiếm nhiều vai trò trong một hòm phiếu, nhưng với tư cách là người sở hữu một công ty thì điều đó lại đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu quyết định sở hữu một công ty nào đó của chúng ta ảnh hưởng đến hoạt động của xã hội thì tôi cho rằng chúng ta nên cân nhắc điều chúng ta đang nói.

Đầu tư theo Quy tắc số 1 cho phép bạn xác định được công ty tốt hay xấu và giúp bạn đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn cho chính mình. Điều này không có nghĩa là quy tắc này bảo đảm cho bạn mua được những công ty sẽ không thất bại trong kinh doanh, hay gắn giá trị của bạn với công ty để bảo đảm bạn thu được thành công lớn nhất về tài chính. Điều đó chỉ có nghĩa là xã hội có đủ những kẻ đạo đức giả, vậy tại sao bạn lại hợp tác với họ? Nếu bạn nhận thấy một thứ gì đó xấu xa thì bạn đừng nên sở hữu công ty tạo ra nó. Hãy ủng hộ bất kỳ thứ gì mà bạn mong muốn với số tiền của mình và bạn cần hiểu rằng, đó là lựa chọn cá nhân của riêng bạn.

Đầu tư là một trong những việc mang tính đạo đức và quan trọng nhất chúng ta có thể làm. Nếu ta có vinh dự trở thành một trong số ít người có nhiều tiền hơn mức cần thiết để tồn tại thì chúng ta cần phải thận trọng khi phân bổ nguồn vốn đó vì nó có thể ảnh hưởng đến việc xã hội sẽ đối xử như thế nào với các em nhỏ của chúng ta.

Hãy nghĩ việc đầu tư tiền của bạn cũng giống như việc gieo trồng hạt giống trên mặt đất. Hãy tưởng tượng rằng, chúng ta gieo gì thì sẽ gặt nấy. Hãy hành động như thể điều đó là có thật. Cuối cùng, hãy ghi nhớ Quy tắc 10 - 10 khi mua bất kỳ công ty nào: "Tôi sẽ không sở hữu công ty này trong 10 phút nếu tôi không sẵn sàng sở hữu nó trong 10 năm".

Quy tắc 10 - 10 là một cách tư duy đầu tư. Trên thực tế, chúng ta có thể mua công ty nào đó vào ngày hôm nay, sau một tháng lại bán đi, ba tháng sau mua trở lại và vài tuần sau lại bán đi. Chúng ta mua một công ty để giữ nó trong 10 năm không có nghĩa là chúng ta không thể mua đi bán lại công ty đó nhiều lần.

Lý do quan trọng để sử dụng Quy tắc 10 - 10 trong quá trình mua đó là quy tắc này khiến người ta trở thành những nhà đầu tư có kỷ luật hơn.

Hầu hết các nhà đầu tư đều giả định họ sẽ thua lỗ trong một số khoản đầu tư khi cổ phiếu của họ biến động lên xuống trên thị trường. Do kỳ vọng như vậy nên họ thường đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm bớt rủi ro. Nhưng không có người đầu tư nào lại hờ hững khi bị thua lỗ và cho rằng đó là điều bình thường. Bạn có thể tưởng tượng một người đầu tư quyết định mua thêm năm công ty nữa để “giảm rủi ro”? Điều đó điên rồ như thế nào? Nếu một công ty của anh ta có nhiều rủi ro đến vậy, thì tại sao việc đa dạng hóa đầu tư vào năm công ty có thể khiến cho công ty đầu tiên ít rủi ro hơn? Nếu công ty đầu tiên có quá nhiều rủi ro, anh ta có thể bán nó đi và mua một công ty khác anh ta hiểu rõ hơn. Quy tắc 10 - 10 giúp chúng ta nhớ đến việc chúng ta “sẵn sàng” sở hữu một công ty trong thời gian bao lâu để chúng ta luôn nghĩ mình là một nhà đầu tư dài hạn.

Là những nhà đầu tư theo Quy tắc số 1, chúng ta sẽ chỉ sở hữu một số ít công ty. Trong trường hợp đó, chúng ta cần chuẩn bị tinh thần để chắc chắn rằng chúng ta sở hữu một số ít những công ty thực sự tuyệt vời, đó là những công ty không làm cho chúng ta thua lỗ.

Chúng ta cần kiên nhẫn chờ đợi cho tới khi có thể tìm ra những công ty tuyệt vời với mức giá hấp dẫn và tạo nên một thói quen, là không bao giờ bỏ tiền ra cho tới khi chắc chắn rằng mình sẽ không bị mất tiền. Nếu một công ty thực sự tuyệt vời và mức giá của nó thực sự hấp dẫn, chúng ta có thể tin chắc rằng mình sẽ kiếm được tiền.

Nhưng bạn nên mua công ty nào? Bạn và tôi có nên mua cùng một kiểu công ty không? Chúng ta có phải là những người giống nhau không? Chúng ta có yêu thích và hiểu biết mọi thứ giống nhau không? Rõ ràng, mỗi người trong chúng ta là cá thể duy nhất với tài năng khác nhau. Mỗi người tôi từng gặp đều khác nhau ở khía cạnh nào đó. Chúng ta khác nhau về mục đích. Hành động phù hợp với tính cách của bạn đồng nghĩa với đầu tư phù hợp với tính cách của bạn. Vậy bạn nên sở hữu kiểu công ty nào? Câu trả lời là những công ty bạn hiểu rõ, những công ty phản ánh được bạn là ai.

Hiểu rõ công ty của bạn

Tôi tiếp tục nhắc lại mục tiêu của Quy tắc số 1 đó là hãy đầu tư chắc chắn để không thua lỗ. Nếu chúng ta không hiểu chúng ta đang mua cổ phiếu của công ty nào, chắc chắn chúng ta không dự đoán được điều gì sẽ xảy ra với công ty đó trong tương lai. Nếu chúng ta không dự đoán được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai thì làm sao chúng ta có thể tính toán được giá trị của công ty đó tại thời điểm hiện tại? Rõ ràng là chúng ta cần phải hiểu rõ công ty để có thể dự đoán được tương lai của nó và sau đó tính toán được giá trị của công ty tại thời điểm hiện tại. Vậy chúng ta sẽ dễ dàng hiểu rõ những công ty đã biết hơn là những công ty chưa bao giờ nghe nói đến. Do vậy, chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu những công ty tuyệt vời bằng cách khám phá những công ty chúng ta am hiểu.

Bạn có thể băn khoăn tự hỏi mình phải thực sự hiểu một công ty đến mức độ nào. Ví dụ, nếu bạn thực sự thích sản phẩm ngũ cốc, nhãn hiệu ưa thích của bạn là Cheerios, đó là nhãn hiệu do công ty General Mills sản xuất và công ty này cũng chưa bao giờ làm điều gì sai trái. Vậy có thể nói rằng bạn thực sự hiểu công ty General Mills hay không? Hay bạn đã hiểu chi tiết, kỹ lưỡng quy trình sản xuất và bán hàng của Cheerios hay chưa? Bạn có phải hiểu về nguồn cung cấp, quy trình sản xuất hộp, chi phí lao động, hoạt động marketing và quảng cáo, cách thức trưng bày hàng hay không? Đây là những câu hỏi hay nhưng đều nằm ngoài phạm vi tôi đề cập đến “hiểu công ty của bạn”. Ý nghĩa chỉ là bước đầu tiên. Vì vậy, nếu bạn thích Cheerios và có cảm tình với công ty sản xuất ra nhãn hiệu đó - công ty General Mills, thì đó là điều kiện đủ để giúp nắm được chữ cái M đầu tiên. Khi nắm được ba chữ cái M còn lại, bạn sẽ hiểu đầy đủ về công ty đó để đưa ra quyết định đầu tư dựa trên Quy tắc số 1.

Khi tôi bắt đầu đầu tư, có một điều chắc chắn tôi không biết đó là nhận ra được công ty tuyệt vời bên cạnh những công ty tồi tệ. Điều đầu tiên tôi học được đó là tôi biết nhiều về những công ty đó hơn tôi tưởng.

Chúng ta hãy cùng làm nhanh một bài tập sau: Vẽ ba vòng tròn giao nhau. Vòng tròn thứ nhất có tên “Niềm say mê”. Vòng tròn thứ hai có tên là “Năng khiếu” và vòng tròn thứ ba có tên là “Tiền bạc”. Tôi phải công nhận tác giả và nhà nghiên cứu doanh nghiệp Jim Collins đã rất giỏi khi nghĩ ra ý tưởng ba vòng tròn này. Ông sử dụng chúng để đánh giá các công ty, đặc biệt là những công ty đi từ “tốt” đến “tuyệt vời”.

Viết tất cả những gì bạn thực sự say mê vào vòng tròn thứ nhất - những thứ bạn thích làm, hoặc sẽ làm nếu bạn có thời gian hoặc có tiền. Viết tất cả những gì bạn có năng khiếu ở vòng tròn thứ hai - những thứ bạn giỏi cả trong công việc hay giải trí. Và ở vòng tròn thứ ba, bạn hãy viết tất cả những gì giúp bạn kiếm tiền hoặc khiến bạn tiêu tiền.

Hãy tự hỏi mình ba câu hỏi sau:

1. Bạn thích làm gì, xét trong công việc hoặc trong giải trí?

2. Những việc gì bạn thực sự có năng khiếu?

3. Bạn làm gì để kiếm tiền hoặc bạn tiêu tiền vào những việc gì?

Câu trả lời của bạn - đặc biệt là những câu có liên quan đến ba câu hỏi trên sẽ giúp bạn bắt đầu lựa chọn những công ty tuyệt vời của riêng mình.

Câu trả lời của bạn - đặc biệt là những câu có liên quan đến ba câu hỏi trên sẽ giúp bạn bắt đầu lựa chọn những công ty tuyệt vời của riêng mình.

Ví dụ, nếu tôi làm theo các bước này khi bắt đầu đầu tư, tôi sẽ biết mình thích trở thành hướng dẫn viên trên sông, tôi giỏi làm hướng dẫn viên trên sông và tôi kiếm tiền cũng chính bằng công việc này. Đơn giản chỉ có thế. Ngay khi tôi thấy cụm từ “hướng dẫn viên trên sông” trong tất cả ba vòng tròn, tôi sẽ dễ dàng hiểu được hoạt động của những công ty có tour trên sông.

Tôi cũng không mất nhiều thời gian để nhận thấy hoạt động tổ chức tour trên sông cũng giống như những hoạt động kinh doanh khác - như tổ chức đi săn ở châu Phi hay tổ chức tour đi chơi biển. Hơn thế nữa, các công ty này có thể liên kết với các công ty khác như Disneyland hay Magic Mountain - một công viên theo chủ đề nổi tiếng khác.

Điều bạn tìm kiếm trong ba vòng tròn đó là những gì xuất hiện ở ít nhất hai vòng tròn - một dấu hiệu về thấy một sản phẩm, một ngành nghề hay một công ty nào đó. Bất cứ những gì xuất hiện ở hai hoặc ở cả ba vòng tròn đều được bạn hiểu rõ hơn những người khác. Đó có thể là thứ có ý nghĩa với bạn - đó cũng chính là ngành nghề đáng để bạn nghiên cứu.

Hãy truy cập trang “Yahoo” và click mục “Tài chính” sau đó là mục “Các ngành nghề” tiếp đến là mục “Danh mục các ngành nghề”. Bạn có thể thấy gần như mọi nghề nghiệp đều được chia thành 12 hạng mục hoặc “lĩnh vực”. Việc này giúp bạn nghĩ đến những công ty bạn muốn mua trước khi bạn học các kỹ năng phân tích. Khi bạn học xong tất cả những gì liên quan đến Quy tắc số 1, bạn sẽ dành nhiều thời gian nghiên cứu những ngành nghề này và tìm kiếm những ngành nghề phù hợp để tiếp tục áp dụng Quy tắc số 1 trong quá trình đầu tư.

Danh sách những lĩnh vực được trích từ Yahoo không phải là một danh sách chuẩn. Không có một danh sách các ngành nghề chuẩn nào. Những công ty dữ liệu khác nhau sẽ liệt kê số lượng ngành nghề khác nhau do họ phân chia hay sát nhập một số ngành nghề lại với nhau. Mỗi công ty dữ liệu có cách phân loại hay đặt tên các công ty theo ngành nghề riêng nhưng tất cả những công ty này đều phân chia các ngành nghề theo cách thức tương đối giống nhau. Tôi sẽ hướng dẫn bạn cách tìm kiếm các ngành nghề chi tiết hơn trong Chương 13.

Mỗi lĩnh vực được hình thành từ những ngành nghề có đặc điểm giống nhau. Du lịch mạo hiểm là một trong những ngành nghề này nhưng nó thuộc lĩnh vực nào? Đừng lo sợ rằng mình phải nhấn chuột nhiều lần và phải tự mình mày mò. Vì du lịch mạo hiểm có gì đó liên quan đến dịch vụ nên bạn hãy thử vào lĩnh vực Dịch vụ. Bạn nhấn chuột vào lĩnh vực “Dịch vụ” và sẽ thấy hàng loạt các ngành nghề có liên quan đến lĩnh vực này hiện ra.

Đây mới chỉ là những lĩnh vực chung chung. Hãy nhìn vào đó và xem liệu trong đó có lĩnh vực nào có bao gồm ngành du lịch mạo hiểm hay không. Các hoạt động mang tính giải trí liệu có được không nhỉ? Hãy nhấn chuột vào mục đó và danh sách sẽ hiện ra.

Có công ty nào có vẻ hoạt động trong lĩnh vực du lịch mạo hiểm không nhỉ? À, đây rồi! Công ty American Classic Voyages, Carnival Corporation, Royal Carribean và Vail Resorts có vẻ liên quan đến lĩnh vực này. Nhưng cũng có những công ty thú vị khác trong danh sách này: Blockbuster là công ty tôi mua băng video, Netfix là công ty tôi mua DVD và tôi cũng đến công ty Six Flags nhiều lần rồi. Như vậy, tôi đang đứng trước nhiều lựa chọn và tôi - một hướng dẫn viên từng hoạt động trên sông có thể biết một số điều về lĩnh vực này. Hãy đi xuống dưới canô sau khi tất cả các hành khách đang ngủ, chúng ta đôi khi có thể hướng dẫn khách ngồi trong bóng tối và nói về việc đi chơi biển bằng tàu thủy tuyệt vời như thế nào và hãy để ai đó chèo thuyền, nhả số, nấu thức ăn và đùa nghịch ở đuôi thuyền. Tổ chức tour trên sông và tour trên biển có rất nhiều điểm giống nhau.

Tôi có thể tìm kiếm được gì nữa? Hầu hết những gì tôi muốn làm hoặc muốn mua đều xuất hiện trong một công ty thuộc lĩnh vực và ngành nghề nào đó. Nếu tôi cho rằng, tôi hiểu đôi chút về những công ty sản xuất thiết bị ngoài trời, tôi có thể tìm thấy chúng ở lĩnh vực Các sản phẩm giải trí. Có khoảng gần 100 công ty sản xuất những sản phẩm như máy tuyết, xe mô tô, gậy chơi golf, thuyền chạy bằng điện và ván trượt tuyết. Trong nhóm Quần áo, có những công ty cũng rất hấp dẫn đối với tôi. Tôi mua các thiết bị ngoài trời - những thứ hữu ích cho những chuyến đi ngắn và những chiếc ván trượt tuyết tại công ty Columbia Sportswear và Quicksilver. Dựa trên kinh nghiệm trong quân đội và kinh nghiệm của một người hướng dẫn trượt tuyết, một người lái xe máy và một người tiêu dùng bình thường thì có 17 công ty tôi thấy muốn sở hữu.

Khi nghiên cứu những ngành nghề này theo cách của những năm 1980, tôi mất nhiều thời gian do phải lật tìm những cuốn sách chứa đầy dữ liệu trong thư viện công cộng. Nhưng cuối cùng, tôi cũng đạt được chút ít kết quả. Đó là có được danh sách những công ty mà tôi hiểu biết đôi chút. Bạn cũng có thể dễ dàng làm được như thế. Bằng cách trả lời ba câu hỏi: bạn giỏi về lĩnh vực nào, bạn yêu thích những gì và bạn kiếm tiền hoặc tiêu tiền như thế nào, bạn sẽ nhanh chóng lập ra được danh sách những công ty bạn am hiểu. Với danh sách này, bạn có thể bắt đầu nghiên cứu.

Nếu bạn từng là một người tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ, và làm việc ở một vài nơi, bạn sẽ nắm được hầu hết các ngành nghề. Không cần phải vận dụng đến khoa học mới có thể tìm ra được những gì có ý nghĩa đối với bạn. Hãy nhìn vào những công ty Warren Buffett sở hữu: đồ uống không ga, thức ăn nhanh, bánh kẹo, dao cạo, công viên giải trí, TV, báo chí, ngân hàng, nhà lưu động, cửa hàng bán đồ dùng trong nhà, cửa hàng bán kim cương… Bạn hiểu biết tương đối nhiều về những công ty này. Trên thực tế, có rất nhiều công ty như vậy nên qua quá trình phân tích và đánh giá cẩn thận theo Quy tắc số 1, bạn phải thu hẹp danh sách các công ty của bạn lại.

Khi bắt đầu thực hành Quy tắc số 1, bạn sẽ thấy mảng thị trường nào bạn am hiểu và mảng thị trường nào bạn nên tránh. (Bạn cũng sẽ khám phá ra những lĩnh vực thị trường bạn muốn tìm hiểu hay cố gắng tìm hiểu và thực hiện những bước cần thiết để tiến hành công việc đó). Nhưng có khi bạn phải tự mò mẫm để tìm hiểu những điều đó. Bạn trải qua ít nhất một lần làm việc ở lĩnh vực bạn cho rằng mình am hiểu cũng như ngành nghề liên quan đến nó, nhưng cuối cùng lại thất bại ngay khi đầu tư vào. Kết quả là bạn cảm thấy như bị ai đó tát vào mặt. Tôi từng hiểu sai một ngành nghề và phải chịu hậu quả về việc đó? Tất nhiên là phải chịu hậu quả và đó là một phần trong quá trình học của tôi.

Điều này xảy ra khi tôi đầu tư vào một công ty máy tính có nhiều nhân tài, với ngân sách lớn và có một nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử (Steve Jobs). Đó là thời điểm năm 1985, Steve Jobs rời công ty Apple để xây dựng một hệ điều hành tốt hơn nhiều so với cả Windows và Apple và ông gọi tên hệ điều hành mới là NeXT. Ông khuyến khích các nhà đầu tư như tôi đầu tư vào NeXT hoặc cả vào những công ty đang phát triển phần mềm chạy trên máy tính NeXT. Do đã dự tính sẽ đầu tư vào một công ty phần mềm nên tôi liên lạc với các nhà lập trình và các chuyên gia máy tính. Tôi cho rằng tôi hiểu lĩnh vực tin học và mọi nhà lập trình đều nói rằng máy tính NeXT là nền tảng tốt nhất cho các nhà phát triển, một hệ thống điều hành tốt nhất, một sản phẩm tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất. Nó có mọi ưu điểm trừ một nhược điểm là không tương thích với Microsoft Windows trong khi các sản phẩm của Microsoft luôn thống trị trên thị trường. Vì bất kỳ mục đích hay toan tính gì Microsoft là một mục tiêu không thể với tới được.

Nếu xem cuộc triển lãm giới thiệu sản phẩm màn hình từ năm 1988 đến năm 1991, bạn có thể phát hiện ra những màn hình có dải màu xám dễ phân biệt của NeXT nhưng chúng hầu như đã biến mất vào khoảng năm 1993. Tôi mất 5 triệu đô la nhưng so với các nhà đầu tư khác như Ross Perot, các trường đại học Carnegie - Mellon, Stanford và Compaq Computer thì đó chỉ là một số tiền ít ỏi. Tôi thừa nhận ngay từ đầu rằng đó không phải vụ đầu tư tôi áp dụng Quy tắc số 1 bởi vì cả NeXT và cả công ty phần mềm tôi đều không tuân theo quy tắc trả lời câu hỏi về bốn chữ cái M.

Kinh nghiệm này dạy cho tôi hai bài học quý giá: (1) những công ty không có truyền thống lâu đời để ta có thể dự đoán được tương lai vốn chứa đựng rủi ro và (2) đừng lao vào những công ty bạn không am hiểu. Nếu Warren Buffett thừa nhận rằng ông sẽ không đầu tư vào Microsoft bởi vì ông không hiểu công nghệ máy vi tính thì tôi đầu tư vào phần mềm cho một máy tính hoàn toàn mới để làm gì? Tôi là người trẻ tuổi ngốc nghếch và tôi cho rằng tôi có thể phá vỡ quy tắc này. Nhưng bây giờ, tôi đã già dặn hơn và khôn ngoan hơn… dù sao đi nữa cũng có kinh nghiệm hơn và tôi muốn giúp bạn tránh những sai lầm tôi từng phạm phải.

Bạn sẽ bắt đầu quá trình này bằng cách nghiên cứu những công ty bạn nghĩ là bạn am hiểu và từ đó bạn sẽ tiến hành nghiên cứu. Hãy cố gắng tránh những tiếng nói tình cảm hay tiếng nói ngạo mạn có thể dẫn bạn đi sai đường. Quy tắc số 1 đơn giản và dễ hiểu đến mức nhiều người cho rằng có thể mở rộng được. Nếu bạn cố làm như vậy, bạn sẽ mất tiền.

Bạn không cần phải sử dụng Internet khi tiến hành nghiên cứu ban đầu. Điểm xuất phát hiệu quả để tìm ra những công ty bạn am hiểu đơn giản chỉ là xem xét những nơi bạn dừng lại mua hàng nhiều lần và những sản phẩm bạn mua nhiều lần. Bạn có thể không hiểu sự rắc rối, phức tạp của những ngành như ngành công nghiệp giày nhưng nếu bạn chỉ đi giày của hãng Nike và mua những sản phẩm của hãng Nike (và thường thích mọi thứ bạn nhìn và nghe về Nike) thì đó là một sự khởi đầu tốt. Hãy nhìn vào bảng kê khai thẻ tín dụng và sổ séc của bạn để biết bạn thường tiêu tiền vào những khoản mục nào. Sau đó, hãy tự hỏi mình “Tôi tự hào khi sở hữu cái gì?” Tôi đoán rằng bạn sẽ có trong danh sách của mình hơn 15 sản phẩm phục vụ cho cuộc sống và công việc của bạn.

(Trích cuốn "Triết lý kinh doanh 101", do Công ty Alpha Books phát hành).

(vnexpress.net)

Topics: Company, business | No Comments »

MVP - Model View Presenter

By hoang188 | July 23, 2008

Giới thiệu
- Trong bài viết giới thiệu về mô hình MVC, chúng ta đã đề cập đến các nhược điểm của ngôn ngữ ASP. Có thể thấy hiện giờ ít trang web nào sử dụng công nghệ ASP cũ để phát triển nữa mà thay vào đó là các ngôn ngữ mới hơn, tiện ích hơn như PHP, ASP.NET, Java, v.v. Microsoft giới thiệu ngôn ngữ ASP.NET với điểm nhấn tách riêng các thành phần giao diện và xử lý dữ liệu bussiness logic bằng mô hình code-behind. ASP.NET có vẽ như là một lựa chọn tốt cho các ứng dụng web đơn giản, nhưng chính mô hình code-behind sẽ gây ra một số khó khăn cho các ứng dụng web vừa và lớn:

- Code-behind dường như được thiết kế để làm quá nhiều việc, nó vừa là một nơi để xử lý các event, kiểm soát các workflow trong chương trình và nó còn là một layer trung gian giữa dữ liệu bên dưới và giao diện phía trên. Người lập trình có thể viết mọi thứ trong code-behind và làm cho nó trở nên vô cùng rối rắm. Để cho code-behind làm quá nhiều thứ sẽ làm cho code của bạn khó kiểm soát và khó test (Unit Test). Trong những ứng dụng web lớn, người ta xem một design tốt khi nó giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các tầng (layer) và làm sao để cho code-behind càng đơn giản càng tốt. Với mô hình Model-View-Presenter, chúng ta sẽ thấy rằng code-behind được giữ cho vô cùng đơn giản và không hề dính dáng gì đến những xử lý trên giao diện Web.

- Một nhược điểm khác của code-behind là nó hầu như rất khó để sử dụng lại những xử lý giao diện (presentation logic) giữa những trang code-behind khác nhau nếu không đưa các xử lý đó ra các lớp Utility hay Helpers để tránh trùng lặp code. Tất nhiên để làm được điều đó cần một thời gian để tổ chức các lớp cho thich hợp. Tuy nhiên, nó thường dẫn chúng ta đến việc thiết kế các lớp một cách rời rạc và giống như khi sử dụng ASP. Trong một design tốt, mỗi class trong hệ thống nên có duy nhất một nhiệm vụ và mục đích rõ ràng, nếu chúng ta cần tạo ra một class chỉ để tránh trùng lặp code giữa 2 hoặc nhiều nơi khác thì đó là một dấu hiệu xấu, một thiết kế tồi.

- Và một nhược điểm cố hữu mà tôi thường nhắc đến là khả năng sử dụng Unit Test để test các lớp code-behind này. Các lớp code-behind đều kế thừa từ System.Web.UI.Page nên khó có thể viết các Unit Test một cách tự nhiên và thuận lợi được.

- Đã có nhiều kĩ thuật được tìm ra để giải quyết vấn đề của code-behind. Chẳng hạn như Castle Monorail project đã kế thừa những lợi điểm của Ruby-On-Rails và không sử dụng mô hình ASP.NET event. Thực ra cũng giống như ASP.NET MVC Framework, Castle Monorail hướng người lập trình đến cách phát triển ứng dụng Web theo MVC hơn là MVP, và khi áp dụng những framework này, chúng ta sẽ làm web ASP.NET theo một cách hoàn toàn khác, không có postback, không có server controls,… Khác với các framework hỗ trợ MVC, các framework hỗ trợ MVP là những giải pháp trong đó vẫn giữ mô hình event của ASP.NET nhưng hướng đến mục tiêu làm cho code-behind càng đơn giản càng tốt. Model-View Presenter sẽ giúp bạn làm được chuyện đó mà không cần dựa trên một framework nào cả. Đó cũng chính là lý do rất nhiều lập trình viên Web đã chọn MVP thay vì MVC trước khi có những framework hỗ trợ MVC như hiện nay.
- Bên cạnh các ASP.NET MVC Framework, Castle Monorail, hiện nay đã có những framework hỗ trợ MVP cho .NET như MVC# FrameworkNMVP Framework. Hi vọng tôi có thời gian tìm hiểu và chia sẽ với các bạn muốn quan tâm. Trong bài viết này, tôi sẽ trình bay khái quát lý thuyết suông về MVP; một sample code sẽ được giới thiệu trong bài tiếp theo.

Các bạn đang xem bài viết về Model View Presenter từ blog của Nguyễn Thoại (http://nthoai.blogspot.com)

Model-View-Presenter
- Nhiều người cho rằng MVP là một design biến đổi của MVC. Điểm khác nhau dễ thấy nhất là Presenter và Controller :bbpraroi: hehe đùa thôi… Trong mô hình MVP, các lớp View sẽ được sử dụng thông qua một Interface được định nghĩa trong .NET. Các lớp Presenter tương ứng sẽ sử dụng Interface này để đọc và ghi dữ liệu lên trên các View. Trong đa số các cách implement, một View sẽ có một Presenter tương ứng của nó. View sẽ khởi tạo Presenter cho nó và truyền cho Presenter này tham chiếu đến chính nó. Khi một event nào trên view được kích hoạt chẳng hạn như button_clicked, text_changed,.. bản thân lớp View sẽ không làm gì cả mà sẽ để cho lớp Presenter xử lý những sự kiện đó. Presenter sẽ đọc dữ liệu từ View (vì nó giữ một instance của View như là một member trong class) thông qua View Interface, thực hiện những xử lý ứng với Event được kích hoạt và set những thay đổi từ dữ liệu Model lên trên View thông qua View Interface.
- Trong môi trường .NET, cùng một Presenter có thể được sử dụng cho View trên web như các trang ASP.NET hoặc được sử dụng cho các Form trong Windows Form Application. Các Presenter đọc và ghi dữ liệu thông qua một Interface của .NET nên nó hoàn toàn độc lập với layer View. Chính nhờ cách làm này mà ta có thể áp dụng Unit Test cho các lớp xử lý Presenter rất dễ dàng và nó cũng chính là một trong những lợi ích lớn nhất của MVP cho khả năng tái sử dụng.

Model View Presenter Solution Structure

Cập nhật View
- Khi thành phần dữ liệu Model được cập nhật, View cũng sẽ phải được cập nhật để hiển thị những thay đổi. Quá trình cập nhật View có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Có lẽ cũng từ những cách này mà Model-View-Presenter được chia thành hai loại là Passive View và Supervising Controller.
- Trong mô hình Passive View, Presenter sẽ cập nhật view tương ứng bằng cách đọc dữ liệu trực tiếp từ Model rồi set lên View, do đó các lớp View sẽ không biết gì về thay đổi dữ liệu bên dưới. Hay nói cách khác chúng hoàn toàn bị động theo như trên gọi.
- Còn trong mô hình Supervising Controller, các lớp View sẽ tương tác trực tiếp với Model bên dưới để đọc dữ liệu mà không cần thông qua các lớp Presenter. Presenter sẽ cập nhật Model; nó chỉ thay đổi những control trên View trong trường hợp có những xử lý giao diện phức tạp mà không thể khai báo trước chẳng hạn như ẩn hiện control, đổi màu text,…

Passive View and Supervising Controller

- Quyết định dùng Passive View hay Supervising Controller thường dựa trên nhu cầu test tự động của ứng dụng. Nếu bạn muốn làm một ứng dụng có thể test tự động dể dàng và cover hầu hết các xử lý bên trong thì Passive View là một lựa chọn thích hợp, mọi UI logic đều được test bằng cách viết lớp test cho các Presenter. Mặt khác, nếu bạn thích code đơn giản hơn thì Supervising Controller có vẻ là một lựa chọn thích hợp hơn. Đối với những thay đổi đơn giản trên giao diện, bạn cũng không cần đưa những xử lý cho các thay đổi đó vào lớp Presenter. Khi chọn lựa giữa Passive View và Supervising Controller, bạn nên cân nhắc các điều sau đây:

Tương tác với dữ liệu
- Bạn cần phân biệt rõ Model với Domain, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. Chúng ta có thể implement các lớp tương tác với dữ liệu bằng nhiều cách khác nhau. Trong một số trường hợp, có thể bạn sẽ phải sử dụng Observer Pattern cho các Presenter và Model. Nó sẽ giúp cho Presenter nhận những events từ Model khi có sự thay đổi và từ đó cập nhật thay đổi đó lên trên View. Thông thường, người ta sẽ làm ra các lớp Service/Manager, các lớp này sẽ đóng vai trò như các lớp Bussiness Logic trong layer Model để giúp Presenter tương tác với database bên dưới:

MVP Tiers

Các nhược điểm của MVP

Tài liệu tham khảo:
http://msdn.microsoft.com/en-us/library/cc304728.aspx
http://www.codeproject.com/KB/architecture/ModelViewPresenter.aspx
http://en.wikipedia.org/wiki/Model_View_Presenter

(from Nguyễn Thoại’s blog)

Topics: Howto | No Comments »

Sự thật về sự thất bại của những thương hiệu nổi tiếng

By hoang188 | July 19, 2008

Quá trình thiết lập thương hiệu được phát triển để bảo vệ các sản phẩm tránh khỏi sự thất bại. Tuy nhiên, việc thiết lập thương hiệu không còn đơn giản là một cách để tránh khỏi thất bại mà thực tế là các công ty sống hay chết là tùy thuộc vào sức mạnh thương hiệu đó.

Để hiểu rõ quá trình này, chúng ta hãy trở về thế kỷ thứ 19 với các thương hiệu khởi thủy. Trong thập niên 1880, các công ty như Campbell’s, Heinz và Quaker Oats bắt đầu lo lắng về phản ứng của người tiêu dùng về các sản phẩm được sản xuất hàng loạt. Các đặc trưng thương hiệu được thiết kế không chỉ giúp cho những sản phẩm này có chỗ đứng riêng mà còn làm giảm đi nỗi lo của công chúng về các sản phẩm được sản xuất đại trà.

Bằng cách thêm vào một yếu tố “nhân bản” cho sản phẩm, việc thiết lập thương hiệu đã làm thư giãn đầu óc của những người mua hàng của thế kỷ 19. Họ đã từng có lúc đặt niềm tin vào một chủ cửa hàng thân hữu thì nay họ có thể đặt sự tin tưởng đó vào tự thân các thương hiệu và những gương mặt tươi cười của các Cậu Ben và Cô Jemima bên các kệ hàng. Sự thất bại của các mặt hàng sản xuất đại trà mà các chủ nhà máy lo sợ đã không bao giờ xảy ra. Các thương hiệu đã cứu chuộc cái ngày ấy.

Enron - Phản lại sự thật

Không còn gì nhiều để nói về sự thành công và thất bại đầy tai tiếng của ông trùm năng lượng Enron ở Texas. Trong một thời gian ngắn 15 năm, Enron đã bắt đầu từ con số không để trở thành một công ty lớn thứ bảy ở Mỹ và là nhà cung cấp năng lượng nổi tiếng thế giới. Họ sử dụng hơn 21 nghìn nhân viên và hiện diện ở hơn 40 nước trên toàn thế giới.

Cùng với việc sản xuất năng lượng, họ cũng tạo nên một đặc trưng thương hiệu mạnh mẽ. Enron giành được giải thưởng “Công ty Đột phá Nhất nước Mỹ” của tạp chí Fortune sau sáu năm hoạt động, họ cũng được xếp hạng cao trong biểu đồ “Những công ty tốt nhất để làm việc” cũng của tạp chí này. Công ty cũng cổ vũ hình ảnh của một công dân tốt của cộng đồng và ấn hành các báo cáo xã hội và môi trường nhắm vào những hoạt động của công ty với sự cẩn trọng đối với những hệ quả môi trường của công việc, các chính sách chống hối lộ và tham nhũng cùng những mối quan hệ đồng sự.

Trong nhiều năm, Enron chứng tỏ họ là một công ty lớn mạnh và có lợi nhuận cao. Và rồi trong thời gian 2001-2002, những chứng tỏ này hóa ra chỉ là dối trá - một vụ dối trá lớn nhất trong lịch sử các công ty. Những công bố về lợi nhuận của công ty được minh chứng là không có thật, họ có những món nợ khổng lồ không được thể hiện trong sổ sách của công ty. Công ty kiểm toán cho Enron, Arthur Andersen, cũng dính líu vào việc che giấu các hồ sơ liên quan đến tài khoản của Enron, có nghĩa là những tác động của vụ tai tiếng trở thành thảm họa đối với danh tiếng của cả công ty này nữa. Cùng với vụ việc được tiết lộ, các nhà đầu tư và chủ nợ rút lui, đẩy công ty đi đến chỗ phá sản vào tháng 12/2001. Khi sự thực được phơi bày ra ánh sáng, những người điều hành của Enron lại làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn khi từ chối việc kiểm chứng và tuyên bố là họ không tin là sẽ được xét xử một cách công bằng.

Vụ tai tiếng của Enron cũng có những dính líu chính trị trong đó bởi những quan hệ gần gũi của công ty này với Nhà Trắng. Enron đã ủng hộ nhiều triệu đô la vào chiến dịch tranh cử năm 2000 của George Bush. Mặc dù cá nhân ông Bush là một người bạn của vị Giám đốc điều hành Kenneth Lay của Enron, ông này mau chóng cách ly với mọi dính líu có thể gây tai tiếng với công ty này.

Những tác động lâu dài của vụ tai tiếng này sẽ còn được cảm nhận trong nhiều năm nữa và cái tên Enron là không thể hồi phục và mãi mãi sẽ là đồng nghĩa với sự “vô trách nhiệm tập thể”.

Các bài học từ vụ phá sản của Enron:

- Không dối trá. Hình ảnh của công ty được ghi nhận bởi sự dối trá đã được chứng tỏ của Enron. Mọi việc dối trá đều không thể che giấu lâu dài.

- Tính hợp pháp. Một bài học rõ ràng, nhưng là một bài học vẫn luôn bị bỏ qua ở mọi cấp độ của tổ chức.

- Không che giấu. Enron đã làm cho một trường hợp tệ hại trở thành thảm họa khi từ chối nhìn nhận sai lầm sau khi sự thật được phơi bày.

Arthur Andersen - Xẻ vụn một danh tiếng

Nếu vụ tai tiếng Enron có thể minh chứng cho một điều gì thì đó là bản chất dính líu lẫn nhau của thế giới kinh doanh hiện đại. Cuối cùng thì Enron có vô số những quan hệ tập thể, đặc biệt là ở tiểu bang quê nhà của họ, Texas. “Ở một mức độ nào đó thì rõ ràng là mọi người đều có dính líu với Enron”, Richard Murray, giám đốc trung tâm Chính sách Công cộng của viện đại học Houston, khẳng định.

Dù sao, trong lúc tổ chức Enron có một tác động tiêu cực với cộng đồng kinh doanh Texas thì với những công ty trực tiếp dính líu đến Enron trong việc kinh doanh, hậu quả thật sự là thảm họa. Với công ty kiểm toán cho Enron, Arthur Andersen, việc dính líu này có một tác động chết người.

Hơn nữa, vụ tai tiếng Enron có liên quan đến việc kiểm toán. Đặc biệt là việc che giấu hồ sơ liên quan đến tài khoản và những món nợ khổng lồ của Enron, một thực tế về sự đồng lõa của công ty kiểm toán. Sự đồng lõa này càng rõ ràng hơn khi David Duncan, kế toán trưởng của Enron ở Andersen, bị buộc phải có mặt trong cuộc điều tra đầu tiên đã từ chối nói chuyện để cố chạy tội cho bản thân. Ngay cả khi Joseph Berardino, trưởng ban điều hành của Andersen, ngang ngạnh bảo vệ cho vai trò của công ty ông trong việc này cũng không thể tránh được những tổn thương bắt buộc. Một khi họ đã bị cáo buộc là có tội trong việc hủy hoại chứng cớ, công ty gánh chịu sự tổn thương thương hiệu nghiêm trọng và những chấn động vẫn còn cảm nhận được trong toàn ngành công nghiệp kiểm toán.

Các bài học từ Arthur Andersen

- Hiểu là các công ty đều dính líu lẫn nhau. Không một công ty nào là hoàn toàn độc lập với những công ty khác. Những hoạt động của Enron và Andersen là không thể tách rời, ít nhất là trong tâm trí của công chúng.

- Đừng đưa ra những thông điệp mù mờ. Thậm chí những ghi nhận khác nhau về các sự kiện cũng nảy sinh ngay từ trong nội bộ của Andersen.

Planet Hollywood - Nhân vật mạnh, thương hiệu yếu

Những chứng nhận danh tiếng có thể hỗ trợ lớn trong việc thúc đẩy mãi lực của một sản phẩm hay dịch vụ. Chẳng hạn như khi Oraph Winfrey, một tên tuổi danh tiếng trong giới truyền hình, giới thiệu sách qua câu lạc bộ sách của cô ấy - những cuốn sách đó hầu như được bảo đảm là sẽ bán chạy. Một số thương hiệu cũng được hưởng lợi từ danh tiếng của người tạo lập.

Cũng có những trường hợp, những người danh tiếng dùng tên tuổi của mình để hỗ trợ hay gầy dựng việc kinh doanh. David Bowie đã cho USABancshares.com, một ngân hàng trên mạng, mượn tên tuổi của mình để tung ra các cuốn chi phiếu hay thẻ tín dụng Bowie. Ngài Alex Ferguson của Manchester United là cổ đông của toptable.com.uk, một địa chỉ dịch vụ đặt chỗ và thông tin về các nhà hàng. Ban nhạc U2 sở hữu một khách sạn và hộp đêm. Bill Wyman là chủ một nhà hàng…

Một ví dụ nổi tiếng nhất trong các vụ mạo hiểm với danh tiếng cá nhân là thuộc về chuỗi nhà hàng chủ đề Hollywood, Planet Hollywood. Với những người đầu tư nổi tiếng như Bruce Willis, Demi Moore, Whoopi Goldberg, Arnold Schwarzenegger và Sylvester Stallone, chuỗi nhà hàng này được bảo đảm với sự phô trương tối đa khi nó được khai trương vào năm 1991. Công ty này phát triển rất nhanh và mau chóng có được gần 80 nhà hàng trên khắp thế giới. Năm 1999, công ty này phá sản và các nhà hàng của họ ở khắp nơi trên thế giới lần lượt đóng cửa.

“Planet Hollywood đã phơi xác” Malcolm Gluck, nhà phê bình rượu, bày tỏ trên tờ Guardian. “Những người ăn thịt, ăn chay, phê bình món ăn và các chủ nhà hàng đủ loại sẽ vui mừng với cái tin chuỗi nhà hàng lớn nhất trong lịch sử các bếp ăn đã bị nướng sống”. Cùng lúc với tin tức được truyền rao, Planet Hollywood càng mất thêm nhiều khách hàng và chỉ còn hoạt động thực sự ở một vài nhà hàng đầu tiên với sự hỗ trợ của các nhà đầu tư mới từ Ả rập Xê út với những món tiền không đáng kể.

Vậy tại sao một thương hiệu phát triển nhanh như vậy lại mau chóng đi vào đường cùng trong vòng chưa đến một thập niên?

Trước hết, công ty đã khuyếch trương quá nhanh, mở ra các nhà hàng mới trong khi lợi nhuận chưa kịp thu hồi bao nhiêu ở những nhà hàng cũ. Kế hoạch của họ là đến năm 2003 phải đạt đến con số 300 nhà hàng trên toàn thế giới.

Một yếu tố khác nữa là thức ăn. Hầu hết người ta đi ăn ngoài là vì thức ăn, nhưng Planet Hollywood chưa hề bao giờ quảng cáo về yếu tố này trong việc kinh doanh của họ. Để có thể đạt được thành công lâu dài, thức ăn và thức uống phải là chủ đề chính. Ngay cả McDonald’s chủ đề cũng phải là về thức ăn, cho dù giá cả và sự thuận tiện của chúng mới là yếu tố tiên quyết.

Sự thành công của Planet Hollywood chỉ hình thành từ những khách hàng một lần duy nhất, những người bị hấp dẫn bởi yếu tố mới mẻ. “Sức hút đơn thuần là để được có mặt ở một nơi như thế và nhìn xem những nhân vật nào có mặt ở đó”, Malcolm Gluck kể lại. “Với hy vọng được nhìn thấy những người danh tiếng hay những người bạn của những người danh tiếng, hay ngay cả những người ham danh tiếng (những người chỉ đến một lần vì cơ hội công luận hay chỉ vì một bữa ăn và rồi không bao giờ thấy lại)”. Nhưng đó không phải là căn bản để xây dựng một công cuộc kinh doanh lâu dài với những khách hàng lặp lại, điều mà bất cứ một nhà hàng nào cũng phải có để có thể tồn tại lâu dài. Không có một lý do nào để họ quay lại với Planet Hollywood thêm một lần nữa.

Các bài học từ vụ Planet Hollywood

- Danh tiếng vẫn chưa đủ. “Những người ngây thơ này nghĩ rằng chỉ với danh tiếng của họ thôi là đủ để kinh doanh. Không đủ đâu các cậu ạ!”, Malcolm Gluck mỉa mai.

- Truyền miệng là nguy hiểm. Việc truyền miệng là quan trọng hơn là phô trương quảng cáo hay truyền thông, đặc biệt là trong việc đi ăn ngoài.

- Chủ đề phải kết dính với sản phẩm chính. Thức ăn phải là chủ đề chứ không phải là một ghi nhận mơ hồ về Hollywood.

Exxon - Không nói một lời

Nhiều công ty và tổ chức đã từng phải đối phó với một khủng hoảng trong thời gian tồn tại của họ. Dù sao cũng chỉ có một số ít đã thể hiện sự vô trách nhiệm và thiếu khả năng đối với một sự kiện quan trọng. Công ty xăng dầu Exxon là một trong những trường hợp này.

Năm 1989, tàu chở dầu Exxon Valdez gặp tai nạn và làm tràn dầu ra ở bên ngoài bờ biển Alaska. Chỉ trong một thời gian ngắn, một lượng dầu đáng kể của 1,26 triệu thùng được vận chuyển đã loang ra mặt biển tạo thành một vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Vào lúc sự cố xảy ra, một người không được phép điều khiển con tàu trong những vùng biển tương tự, thuyền phó ba - Gregory Cousins đang ở trong khoang lái. Tung tích của thuyền trưởng Joseph Hazelwood trong lúc đó không được giải thích. Một điều tra viên của đội bảo vệ bờ biển đã làm xét nghiệm máu của cả hai người này. Kết quả là nồng độ rượu trong máu của viên thuyền trưởng là vượt mức cho phép cho dù lúc đó đã là tám tiếng đồng hồ sau sự cố. Viên thuyền trưởng này sau đó đã bị phạt và kết án 90 ngày tù giam, một bản án mà nhiều người cho là còn quá nhẹ.

Những nỗ lực kiểm soát vụ tràn dầu đã là chậm chạp ngay từ lúc khởi đầu. “Những ứng phó đầu tiên là không đủ để ngăn chặn và không phù hợp đối với những đo lường về lượng dầu tràn”, một viên thanh tra của cơ quan Bảo tồn Môi trường Alaska cho biết, “24 giờ sau thảm họa, chúng tôi vẫn chưa thấy được dấu hiệu về một kế hoạch ngăn chặn đầy đủ”. Theo như những người quan sát thì Exxon đã thể hiện quá ít và quá trễ. Không chỉ trong những nỗ lực ngăn chặn vụ tràn dầu mà công ty này còn từ chối hợp tác với báo giới. Chủ tịch Lawrence Rawl của Exxon đã quá nghi ngờ giới truyền thông nên đã có những phản ứng phù hợp với cách suy nghĩ đó.

Một vài giờ sau sự cố, các phóng viên đã tràn ngập khu vực này để thực hiện việc đưa tin của họ. Một phát ngôn viên của Exxon chỉ vào sự hiện hữu của quy trình ngăn chặn để thay cho câu trả lời về những gì sẽ diễn biến. Những quy trình mà sau đó các đoạn phim truyền hình cho thấy là vô ích. Khi được yêu cầu phỏng vấn trên truyền hình, Rawls đã trả lời là ông ta không có thời gian cho những chuyện linh tinh đó.

Trong lúc công ty có những khởi đầu hoàn toàn bất lợi với báo giới như vậy thì trên mặt biển, công cuộc ngăn chặn vụ tràn dầu đi vào chỗ bế tắc. Khoảng 240.000 thùng dầu đã tràn ra mặt biển, hàng triệu thùng khác trên con tàu vẫn còn đó. Trong hai ngày đầu, với thời tiết yên bình, chẳng có được bao nhiêu động thái cho cuộc ngăn chặn dầu tràn. Cuộc tràn dầu này đã lan rộng ra và làm ố bẩn hơn 12 dặm vuông mặt biển.

Một tuần sau đó, Exxon vẫn ngậm tăm. Tổng thống Bush tuyên bố cuộc tràn dầu là một thảm kịch và Frank Iarossi, Giám đốc chuyển vận của Exxon bay đến thị trấn Valdez để chủ trì một cuộc họp báo. Cuộc họp báo trở nên tồi tệ khi một ít chứng cớ tốt đẹp được Exxon đưa ra lập tức bị phản đối bởi những con mắt nhân chứng của các nhà báo và ngư dân có mặt tại hiện trường.

John Devens, Thị trưởng của thị trấn Valdez, bình luận rằng cộng đồng cảm thấy bị phản bội vì những phản ứng của Exxon đối với thảm họa. “Bao nhiêu năm qua họ luôn hứa sẽ làm mọi việc để dọn sạch một vụ tràn dầu và gìn giữ chất lượng đời sống của chúng tôi. Tôi thấy rõ ràng là lúc này chúng tôi đang đối mặt với một sự hủy hoại hoàn toàn môi trường sống của mình”. Ngay cả Stephen McAlpine, Thống đốc bang Alaska cũng cho rằng ông vô cùng thất vọng trước đáp ứng của Exxon trong vụ này, “cho dù họ có nói gì, tôi cũng không thể tin được nữa”.

Cuối cùng, ông chủ của Exxon cũng buộc phải xuất hiện trên truyền hình. Khi được hỏi về những nỗ lực sau hết để dọn sạch ô nhiễm trong buổi phỏng vấn trực tiếp, Rawls tỏ ra hoang mang. Hóa ra ông này không hề để ý đến những việc này và cho thấy một thực tế là công việc của một vị chủ tịch không phải là để đọc các báo cáo tương tự. Ông ta đổ lỗi cho báo chí thế giới là đã làm cho thảm họa trở thành quá đáng hơn. Định phận thê thảm của Exxon thế là hoàn tất.

Các hệ quả cho Exxon về cả thảm họa lẫn cách mà họ thu xếp nó là hết sức to lớn. Tổng chi phí chi cho thảm họa tràn dầu này là 7 tỷ đô la. Phần lớn là tiền phạt vì vô trách nhiệm với cộng đồng.

Tuy khó mà lượng định, nhưng tổn thất về tiếng tăm của công ty còn nghiêm trọng hơn. Exxon đã từ vị trí một công ty xăng dầu lớn nhất thế giới rơi xuống hạng ba. ‘Exxon Valdez’ trở thành đồng nghĩa với sự ngạo nghễ tập thể và câu chuyện vẫn còn được rao truyền đến cả năm sau. Trong cuộc thăm dò ở Mỹ vào năm 1990, 65% người trả lời đã cho là cuộc tràn dầu Valdez là yếu tố chính làm gia tăng nhận thức của công chúng về những vấn đề môi trường.

Các bài học từ Exxon

- Sống với lời hứa của bạn. Exxon đã thất bại trong việc minh chứng những khả năng hiệu quả để thu xếp thảm họa - và họ cũng cho thấy khả năng tránh né một khi vấn đề không có chứng cứ rõ ràng.

- Hành động như một công dân tốt. Exxon đã tỏ ra thờ ơ với sự hủy hoại môi trường và vì vậy cũng không làm được bao nhiêu để hỗ trợ cho trường hợp của công ty.

(Trích cuốn "Sự thật về những thất bại thương hiệu lớn nhất mọi thời đại" do First News phát hành)

(vnexpress.net)

Topics: Untitle, management, review | No Comments »

Giải mã cách làm giàu của các tỷ phú

By hoang188 | July 19, 2008

Tại sao một vài người có các tấm đệm lò xo để nhào lộn trong nhà và máy bay riêng trong khi những người khác lại phải ngủ vạ vật ở các trạm xe buýt? Câu hỏi tại sao Bill Gates lại giàu rất khó trả lời chính xác, chỉ biết rằng thế giới này sẽ là một cuộc chơi hấp dẫn khi bạn có trong tay 50 tỷ đôla.

Bill Gates đang sửa sang lại ngôi nhà của mình. Năm 1997, nhân vật có thế lực này đã chuyển đến ngôi biệt thự trị giá 100 triệu đôla và hiện nó cần sửa lại đôi chút.

Ngôi nhà có diện tích hơn 3.000 m2 này có một rạp chiếu phim 20 chỗ ngồi, một sảnh tiếp khách, bãi đỗ xe 28 chỗ, một tấm đệm lớn để nhào lộn trong nhà và tất cả những đồ dùng điện tử hiện đại nhất. Nhưng, gia đình Bill Gates vẫn chưa hoàn toàn hài lòng với ngôi nhà này. Theo các tài liệu nộp cho Ủy ban quy hoạch của khu vực Medina, Washington, Bill Gates và vợ muốn có thêm phòng ngủ và những khu vui chơi, học tập cho các con.

Người ta có thể suy ra rất nhiều điều từ kế hoạch xây dựng của Gates nhưng kết luận quan trọng nhất là, sẽ thật sung sướng nếu trở thành Bill Gates. Thế giới này sẽ là một cuộc chơi hấp dẫn khi bạn có trong tay 50 tỷ đôla. Người ta cũng có thể nghĩ đến một số vấn đề khác, rộng hơn: Tại sao một vài người có các tấm đệm lò xo để nhào lộn trong nhà và máy bay riêng trong khi những người khác lại phải ngủ vạ vật ở các trạm xe buýt? Tại sao trong thời kỳ phát triển kinh tế kéo dài nhất lịch sử nước Mỹ, vẫn có rất nhiều người không có đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống?

Chín năm tăng trưởng kinh tế liên tục chỉ làm tăng thêm tỷ lệ đói nghèo. Khoảng 11% người Mỹ sống trong tình trạng đói nghèo. Đây là một con số đáng tưởng thưởng so với mức đỉnh điểm 15% của năm 1993 nhưng lại không khá hơn là bao so với những năm 1970. Tất nhiên, Mỹ vẫn là nước giàu trong khu vực nếu xét trong bối cảnh một nửa dân số thế giới (tức, khoảng 3 tỷ người) phải sống dưới mức nghèo khổ.

Đói nghèo và bất bình đẳng về thu nhập cũng là một đề tài được rất nhiều nhà kinh tế học quan tâm. Họ tìm lời giải cho những câu hỏi: Có những ai nghèo? Tại sao họ lại nghèo? Và mọi người có thể làm gì để giải quyết tình trạng đó? Bất kỳ cuộc tranh luận nào về nguyên nhân Bill Gates giàu hơn những người phải sống thiếu thốn trong những khu ổ chuột đều bắt đầu bằng khái niệm mà các nhà kinh tế học gọi là vốn con người.

Vốn con người là toàn bộ các kỹ năng của một cá nhân đó là học vấn, sự thông minh, uy tín, tính sáng tạo, kinh nghiệm làm việc, khí lực doanh nhân, và thậm chí cả khả năng ném một quá bóng rổ thật nhanh, mạnh và chính xác. Nó là tất cả những gì còn lại nếu có ai đó tước đi tất cả tài sản của bạn - công việc, tiền bạc, nhà ở, các tài sản khác - và để bạn lại trên một góc phố chỉ với một bộ quần áo trên người. Bill Gates sẽ sống thế nào trong tình hình đó? Rất tốt. Thậm chí nếu Microsoft có phá sản và tài sản của Gates bị tịch thu thì ông vẫn có thể tìm được cho mình một công việc tốt ở các công ty khác. (Khi bị Apple - công ty do chính mình sáng lập nên - sa thải, Steven Jobs đã chuyển hướng và sáng lập ra Pixar và ngay sau đó, Apple đã mời ông quay trở lại).

Thị trường lao động không khác nhiều so với các thị trường khác: trong thị trường đó, có những kỹ năng được chuộng hơn những kỹ năng khác. Nếu một người càng sở hữu nhiều kỹ năng riêng, độc đáo, người đó càng được trọng dụng. Alex Rodriguez kiếm được 250 triệu đôla trong 10 năm chơi bóng rổ cho Texas Rangers bởi vì anh ta có thể đánh một quả bóng tròn rất mạnh (có vận tốc khoảng 90 dặm một giờ) với tần xuất khá thường xuyên. Sức hút từ cú đánh bóng của Rod giúp Rangers thu được lợi nhuận khổng từ việc bán vé, đồ lưu niệm cho các fan hâm mộ và quảng cáo trên truyền hình. Và trên hành tinh này, có lẽ, duy nhất Rod là người có khả năng đánh một cú bóng mạnh với phong độ ổn định như thế.

Tương tự như trong nền kinh tế thị trường, giá của một kỹ năng không có mối quan hệ cố hữu với giá trị xã hội của nó, mà chỉ liên quan đến sự khan hiếm. Trong cuộc phỏng vấn Robert Solow - người giành giải Nobel Kinh tế năm 1987 và là một người rất say mê bóng rổ - tôi đã hỏi Solow, ông có thấy buồn không khi số tiền thưởng của giải Nobel ít hơn cả số tiền mà Roger Clemens, vận động viên của Red Sox vào thời điểm đó, kiếm được trong một mùa giải. Solow đã trả lời: “Tôi không buồn, bởi vì chuyên gia kinh tế giỏi thì có nhiều nhưng cầu thủ bóng rổ giỏi như Roger chỉ có một”. Đây chính là lối tư duy của các nhà kinh tế học.

Ai là người giàu có, hoặc ít nhất là có cuộc sống thoải mái ở Mỹ? Các kỹ sư lập trình, bác sĩ phẫu thuật, kỹ sư nguyên tử, nhà văn, kế toán, chủ ngân hàng, giáo viên… Các cá nhân này thường là những người có tài năng thiên bẩm: họ tích lũy được rất nhiều kỹ năng chuyên biệt khi tham gia các khóa đào tạo và giáo dục chuyên môn. Nói cách khác, họ đã đầu tư đáng kể vào vốn con người. Giống như bất kỳ loại hình đầu tư nào khác - từ xây dựng một nhà máy sản xuất đến mua trái phiếu - tiền được đầu tư hôm nay cho vốn con người sẽ mang về lợi nhuận trong tương lai. Đó sẽ là một khoản lợi nhuận rất lớn. Theo tính toán, nếu bạn đầu tư ngay hôm nay cho việc học đại học, bạn có thể kiếm lại số tiền đó cộng thêm 10% một năm cho số tiền bạn đã bỏ ra.

Điều ngược lại đúng với những người lao động nghèo. Những người lao động có các kỹ năng làm việc tối thiểu không hiếm. Các cửa hàng ăn nhanh chỉ cần trả mức lương vừa phải là có thể thuê được những người phục vụ thân thiện. Đó có thể là 5,50 đôla một giờ khi nền kinh tế đang suy thoái hoặc 9 đôla một giờ khi thị trường lao động đặc biệt khan hiếm, nhưng sẽ không bao giờ lên tới 400 đôla một giờ - một mức phí mà chỉ những luật sư hàng đầu mới có thể yêu cầu.

Những luật sư xuất sắc rất hiếm, nhưng những người bán đồ ăn giỏi thì không. Nguyên nhân chính xác nhất dẫn đến tình trạng đói nghèo dù ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới là tình trạng thiếu vốn con người. Ở Mỹ, có một bộ phận người dân nghèo là bởi vì họ không thể tìm được việc làm. Nhưng đây là một triệu chứng, chứ không phải là một căn bệnh. Vấn đề cơ bản là do họ thiếu các kỹ năng (hay, vốn con người). Tỷ lệ nghèo ở những học sinh bỏ học ngay từ cấp phổ thông ở đất nước chúng ta cao gấp 12 lần tỷ lệ nghèo ở những sinh viên tốt nghiệp đại học. Tại sao Ấn Độ lại là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới? Lý do chủ yếu là bởi vì 35% dân số nước này mù chữ (đã giảm so với mức gần 50% cách đây một thập kỷ) hoặc phải sống trong những điều kiện khiến họ không phát huy được vốn con người.

Một nền kinh tế mạnh cũng có vai trò hết sức quan trọng. Tìm được một công việc vào năm 2001 dễ hơn vào năm 1975 hay 1932. Nước lên sẽ kéo thuyền lên. Tăng trưởng kinh tế là điều tuyệt vời đối với tất cả những người nghèo. Ngược lại, một nền kinh tế yếu kém sẽ là nỗi kinh hoàng đối với họ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế: Ngay cả khi nước lên, những lao động có tay nghề thấp cũng chỉ có thể bám lấy những khúc củi trôi giạt, trong khi những người cùng độ tuổi có tay nghề hơn lại ngồi thư thái uống cocktail trên thuyền. Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh không biến những người trông xe thành những vị giáo sư đại học. Nhưng đầu tư vào vốn con người có thể làm được điều đó. Các nhân tố vĩ mô kiểm soát những đợt thuỷ triều nhưng vốn con người mới quyết định chất lượng của con thuyền.

Dù kinh tế phát triển nhanh hay chậm, vị trí của người giàu và người nghèo vẫn không thể cân bằng.

Hãy coi suy nghĩ này như một sự thử nghiệm. Hãy tưởng tượng, vào một buổi sáng thứ hai nào đấy, 100 nghìn thanh thiếu niên lông bông, không học hành bị bỏ bẵng ở góc phố State và Madison ở Chicago. Đây sẽ là một thảm hoạ đối với xã hội. Tội phạm gia tăng và khối dịch vụ của Chính phủ sẽ phải gồng mình để giải quyết vấn đề. Các doanh nghiệp sẽ không muốn xúc tiến các hoạt động trong khu thương mại Chicago. Các chính trị gia sẽ nài xin sự giúp đỡ từ chính quyền bang hoặc liên bang: Rót ngân sách để chúng tôi hỗ trợ những thanh thiếu niên này hoặc giúp chúng tôi loại bỏ họ. Khi quyết định đàn áp thẳng tay người vô gia cư, các chủ doanh nghiệp ở Sacramento, California đã thực hiện kế hoạch đưa họ lên những chuyến xe buýt một chiều ra khỏi thành phố.

Bây giờ hãy tưởng tượng cũng ở góc phố trên nhưng những thanh niên lêu lổng kia được thay bằng 100 nghìn sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học hàng đầu nước Mỹ. Những chiếc xe buýt đến góc phố State và Madison và chở trên đó những luật sư, bác sĩ, nghệ sĩ, nhà di truyền học, kỹ sư phần mềm và nhiều nhân tài có các kỹ năng chuyên biệt khác. Trong số họ, sẽ có nhiều người tìm được việc ngay lập tức. (Hãy nhớ rằng, vốn con người không chỉ là kiến thức chuyên môn, mà còn bao gồm tính kiên trì, trung thực và sáng tạo - những đức tính tốt góp phần đáng kể giúp họ kiếm được việc làm). Một số có thể lập công ty riêng (năng khiếu kinh doanh chắc chắn cũng là một phần quan trọng trong vốn con người). Một số sẽ chuyển đến nơi khác (những lao động có tay nghề cao luôn năng động hơn những người có tay nghề thấp). Để tận dụng nguồn nhân lực dồi dào và quý giá, các doanh nghiệp cũng chuyển tới Chicago hoặc mở văn phòng và nhà máy ở đây. Trong trường hợp này, giống như làn sóng nhập cư đã giúp nước Mỹ phát triển, sự xuất hiện với mật độ dày đặc của những chuyến xe buýt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Chicago.

Nếu bạn cho rằng ví dụ này có vẻ hơi giả tạo và gượng gạo, chúng ta hãy cùng xem ví dụ về Naval Air Warfare Center (NAWC) (Trung tâm Không chiến của Hải quân Mỹ) ở Indianapolis - một cơ sở sản xuất thiết bị điện tử hiện đại cho hải quân cho đến cuối những năm 1990. NAWC buộc phải đóng cửa trong đợt cắt giảm quy mô quân đội. Tất cả chúng ta đã quen với những câu chuyện đóng cửa nhà máy kiểu này. Hàng trăm hoặc hàng nghìn lao động mất việc làm, các công ty quanh vùng rơi vào tình trạng khủng hoảng vì sức mua giảm mạnh.

Một bài báo sẽ viết: “Khi nhà máy XYZ bị đóng cửa năm…, cả thành phố bắt đầu chết.” Nhưng NAWC là một câu chuyện hoàn toàn khác. Một trong những tài sản có giá trị nhất của trung tâm này là lực lượng lao động, khoảng 40% trong số đó là các nhà khoa học hay kỹ sư. Các nhà lãnh đạo thông minh của địa phương do Thị trưởng Stephen Goldsmith đứng đầu quyết định chào bán nhà máy này. Bảy công ty đã nộp hồ sơ thầu và Hughes Electronics là công ty thắng thầu.

Một ngày thứ Sáu của tháng 1/1997, các nhân viên NAWC về nhà với tư cách là nhân viên chính phủ, nhưng ngày thứ Hai tiếp theo, 98% trong số họ làm việc với tư cách là nhân viên của Hughes (Cái tên NAWC cũng được đổi thành HAWC). Các giám đốc của Hughes cho biết giá trị của vụ mua bán này nằm ở con người chứ không phải gạch đá và vữa hồ. Hughes đã mua được một lượng vốn con người khổng lồ mà nó rất khó tìm được ở bất kỳ nơi nào khác. Điều đó đối lập hoàn toàn với việc đóng cửa nhà máy trong bài hát của Bruce Springsteen (Bài hát nói về một nhà máy mà những người lao động có trình độ hạn chế nhận ra rằng các kỹ năng hạn hẹp của họ không có giá trị khi xưởng/hầm mỏ/nhà máy bị đóng cửa). Sự khác biệt chính là ở vốn con người.

Đến đây, chúng ta đã có đủ bằng chứng để từ bỏ một trong những quan niệm nguy hại nhất trong chính sách công: Đó là toàn bộ lý luận sai lầm về lao động. Sẽ là sai lầm khi tin rằng có một số lượng việc làm cố định được tạo ra trong nền kinh tế và do đó sẽ có một công việc mới được tạo ra để thay thế cho một công việc khác bị mất đi. Những con số dưới đây chứng minh cho quan điểm này.

Nền kinh tế Mỹ đã tạo ra hàng chục triệu việc làm mới trong những năm 1990, những việc làm mới này chủ yếu thuộc lĩnh vực Internet. Tuy nhiên, nếu so sánh với các con số trước đó, tỷ lệ lao động có việc làm vẫn chưa cao. Tương tự, trong thời gian này, lịch sử nước Mỹ cũng tiếp nhận làn sóng khổng lồ những người nhập cư đến sinh sống và làm việc nhưng tỷ lệ lao động có việc làm trong dài hạn vẫn không tăng. Có sự thay thế nào trong ngắn hạn không? Có. Một vài công nhân mất việc làm hoặc bị giảm lương khi phải cạnh tranh với những người mới tham gia vào lực lượng lao động. Nhưng số việc mới được tạo ra nhiều hơn số việc làm bị mất đi. Hãy nhớ rằng, các lao động mới phải tiêu dùng thu nhập của mình, dẫn đến sự xuất hiện của nhu cầu mới đối với những sản phẩm khác. Do vậy, chiếc bánh kinh tế ngày càng to hơn, chứ không bị chia nhỏ.

Có một mối liên hệ đáng chú ý giữa mức vốn con người của một quốc gia với sự phát triển của nền kinh tế, nhưng không có một mối liên hệ đáng chú ý giữa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mức sống. Những nước như Nhật và Thụy Điển là những nước giàu có vào bậc nhất thế giới, nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên của cả hai nước này đều rất nghèo nàn. Những nước như Nigeria lại hoàn toàn ngược lại: Sự giàu có về dầu mỏ chỉ góp phần rất nhỏ vào việc nâng cao mức sống của người dân. Trong một số trường hợp như ở châu Phi, sự giàu có về khoáng sản còn là nguyên nhân dẫn đến những cuộc chiến tranh đẫm máu mà đáng lẽ ra đã chấm dứt hẳn nếu không có những nguồn tài nguyên đó.

Mỹ là một quốc gia giàu có bởi vì người Mỹ làm việc rất năng suất. Ngày nay, chúng ta giàu hơn so với bất cứ thời điểm nào trong lịch sử loài người, bởi vì chúng ta có khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ tốt hơn nhiều lần trước kia, gồm cả những dịch vụ như chăm sóc sức khoẻ và giải trí. Điểm mấu chốt là chúng ta làm việc ít hơn và sản xuất ra nhiều hơn. Năm 1870, để làm ra đủ lượng thực phẩm cần dùng cho một năm, một hộ gia đình điển hình cần 1.800 giờ lao động, nhưng giờ đây, họ chỉ mất khoảng 26 giờ.

Trong thế kỷ XX, năm làm việc trung bình giảm từ 3.100 giờ xuống còn khoảng 1.730 giờ, trong khi đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân trên đầu người thực tế đã tăng từ 4.800 đôla lên 31.500 đôla. Ngay cả những người nghèo cũng đang sống rất tốt so với chuẩn lịch sử. Ranh giới nghèo hiện nay đang dừng ở mức thu nhập thực tế của 10% người có thu nhập cao nhất cách đây một thế kỷ. Đúng như John Maynard Keynes từng lưu ý: “Về lâu dài, năng suất lao động sẽ quyết định mọi thứ”.

Nhiều nhà kinh tế học cho rằng, chúng ta không nên quan tâm đến khoảng cách giàu nghèo cho đến khi chất lượng cuộc sống của mọi người trở nên tốt hơn. Nói cách khác, chúng ta nên quan tâm đến phần bánh mà người nghèo nhận được là bao nhiêu, chứ không phải là phần bánh họ nhận được bằng bao nhiêu so với của Bill Gates.

Robert Frank, nhà kinh tế học của trường Đại học Cornell, đồng thời là tác giả của cuốn Luxury Fever, đã đưa ra một ví dụ rất thuyết phục khẳng định sự giàu có tương đối – kích thước chiếc bánh của tôi so với của người hàng xóm – là yếu tố quyết định quan trọng lợi ích của chúng ta. Những người tham gia cuộc khảo sát của ông có hai sự lựa chọn: (A) bạn kiếm được 110 nghìn đôla và những người khác kiếm được 200 nghìn đôla; hoặc (B) bạn kiếm được 100 nghìn đôla và những người khác kiếm được 85 nghìn đôla. Frank giải thích: “Những con số thu nhập chính là sức mua thực tế.

Thu nhập của bạn trong lựa chọn A sẽ đủ điều kiện mua một ngôi nhà lớn hơn 10% so với ngôi nhà bạn có thể mua trong lựa chọn B. Nếu chọn chọn B, bạn sẽ phải từ bỏ một số tiền nhỏ trong toàn bộ thu nhập để đổi lấy mức tăng lớn trong thu nhập tương đối.” Bạn sẽ giàu có hơn trong lựa chọn A và ít giàu hơn trong lựa chọn B nhưng lại giàu hơn những người khác. Lựa chọn nào sẽ khiến bạn vui vẻ hơn? Theo Frank, phần lớn người Mỹ đều chọn B. Nói cách khác, thu nhập tương đối có ý nghĩa rất quan trọng. Sự ghen tị có thể là một phần cho cách giải thích này. Frank đã chỉ ra rằng, trong những môi trường xã hội phức tạp, chúng ta luôn tìm kiếm các thước đo đánh giá hoạt động của mình và sự giàu có tương đối là một trong những thước đo đó.

Những gia đình sống ở các khu nhà ổ chuột tại phía nam của Chicago không nghèo bởi vì Bill Gates sống trong một ngôi nhà lớn. Họ nghèo bất chấp thực tế đó. Vì một loạt những lý do phức tạp, người nghèo ở Mỹ không được chia sẻ những khoản lợi mà DOS và Windows tạo ra. Bill Gates không lấy chiếc bánh của họ, ông ta không cản bước con đường thành công của họ hay được lợi từ sự thiếu may mắn của họ. Thay vào đó, tầm nhìn và tài năng của Gates đã tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ. Có sự khác biệt rất lớn giữa một thế giới mà ở đó Bill Gates giàu lên bằng cách đánh cắp những thành quả của người khác với một thế giới mà ở đó ông giàu lên nhờ việc tự tăng nguồn cung cấp thực phẩm khổng lồ cho riêng mình. Thế giới sau là sự biểu hiện tốt hơn cho thấy một nền kinh tế hiện đại hoạt động như thế nào.

(Trích cuốn sách "Đôla hay lá nho" do Alpha Books phát hành)

(vnexpress.net)

Topics: Untitle, management, people | No Comments »

10 cách bảo mật máy tính Linux

By hoang188 | July 16, 2008

Một máy tính Linux thường chạy nhanh hơn và bảo mật hơn so với máy tính có cài các hệ điều hành khác. Đôi khi, cách dễ nhất để bảo mật lại là phương thức dễ quên nhất. Hãy tham khảo 10 cách sau để có thể bảo vệ một máy Linux. Lưu ý rằng chúng tôi nêu ra cách này chỉ áp dụng đối với một máy thông thường, không phải máy chủ. Bảo mật máy chủ Linux sẽ phải đòi hỏi những cấu hình kiểu khác.

1. Khóa màn hình và log out khỏi hệ thống
Phần lớn người dùng thường quên rằng Linux là một môi trường máy tính đa người dùng. Do đó, bạn phải log out khỏi máy tính để người khác có thể log in vào máy khi cần dùng. Tất nhiên việc log out không phải là tùy chọn duy nhất. Nếu chỉ một mình bạn sử dụng máy tính đó, bạn sẽ phải khóa màn hình lại thay vì log out. Khóa màn hình rất đơn giản là bạn sẽ phải nhập vào một mật khẩu nếu muốn vào lại màn hình làm việc. Điểm khác ở đây là khi khóa màn hình thi các ứng dụng trên máy tính vẫn chạy, khi quay trở lại màn hình làm việc, các chương trình đó sẽ tiếp tục chạy. Thật an toàn và bảo mật.
2. Ẩn các file và thư mục một cách nhanh chóng

Trong Linux, các file và thư mục được ẩn đi bằng cách thêm một dấu chấm “.” trước tên của file hoặc thư mục. Ví dụ nếu một file có tên test đang hiển thị một cách bình thường thì file .test sẽ bị ẩn đi. Phần lớn mọi người đều không biết rằng chạy câu lệnh ls –a sẽ hiển thị tất cả các file và thư mục ẩn. Vì vậy, nếu bạn có thư mục và file ẩn không muốn đồng nghiệp sử dụng máy nhìn thấy, chỉ đởn giản là thêm một dấu chấm vào trước tên file và thư mục. Bạn cũng có thể thực hiện việc này từ dòng lệnh: mv test .test.
3. Mật khẩu mạnh

Mật khẩu trên một máy tính Linux chính là chiếc chìa khóa vàng. Nếu bạn đánh mất mật khẩu hoặc mật khẩu quá đơn giản, chiếc chìa khóa vàng này sẽ trở thành là của tất cả mọi người. Và nếu bạn sử dụng Ubuntu thì một mật khẩu sẽ cho người dùng được truy cập nhiều hơn là sử dụng Fedora. Để không gặp phải vấn đề mất dữ liệu với nguyên nhân không đáng có này, hãy đặt mật khẩu mạnh. Có rất nhiều cách đặt mật khẩu mạnh mà chúng tôi đã giới thiệu trong nhiều bài trước đây, bạn có thể đọc tham khảo.
4. Tránh cài đặt các ứng dụng chia sẻ file
Rất nhiều người dùng Linux thường xuyên phải sử dụng việc chia sẻ file. Nếu thực hiện việc chia sẻ này trong mạng công ty, bạn có thể mở và truy cập vào máy tính của những người dùng khác thì ngược lại, họ cũng có thể truy cập vào chính những dữ liệu nhạy cảm trên máy tính của bạn. Vì vậy, có một luật đưa ra là không cài đặt các công cụ chia sẻ file.
Nguồn: Ce-infosys.com5. Cập nhật thường xuyên máy tính là một điều sáng suốt

Linux không như Windows. Với Windows, bạn có thể lấy các bản cập nhật bảo mật khi Microsoft phát hành ra chúng (có thể mất đến vài tháng mới có một bản vá). Còn với Linux, một cập nhật bảo mật có thể được cung cấp ngay sau vài phút hoặc vài giờ từ khi phát hiện ra lỗ hổng. Cả KDE và GNOME, đều có các applet cập nhật cho Panel. Hãy cập nhật ngay khi có bản vá bảo mật được cập nhật. Đừng trì hoãn việc cập nhật bảo mật bởi đó cũng có thể là nguyên nhân gây nguy hiểm cho máy tính của bạn.
6. Cài đặt chương trình bảo vệ virus

Dù tin hay không thì một chương trình bảo vệ virus trên máy tính Linux là rất cần thiết. Tất nhiên, khả năng virus gây ra vấn đề trên hệ thống Linux của bạn là rất thấp nhưng nếu các email được forward tới các máy tính Windows khác thì có thể là nguyên nhân gây ra vấn đề. Một chương trình bảo vệ virus tốt (như ClamAV) sẽ đảm bảo các email gửi đi từ máy tính của bạn sẽ không chứa theo bất kỳ mối nguy hại nào có thể quay trở lại phá hoại bạn (hay công ty bạn).
7. Kích hoạt SELinux
SELinux (Security-Enhanced Linux) được tạo bởi NSA. Những gì SELinux làm được là khóa điều khiển truy cập vào các ứng dụng. Thật tuyệt vời phải không. Chắc chắn SELinux cũng có một vài điều gây khó chịu cho người sử dụng như việc gây chậm cho hệ thống hay khiến cho một vài ứng dụng trở nên khó cài đặt. Nhưng những tiện lợi về bảo mật khi sử dụng SELinux (hoặc Apparmor) vượt trôi hơn so với những nhược điểm mà nó có. Bạn có thể kích hoạt SELunux trong quá trình cài đặt Fedora.
8. Tạo /home trong một partition riêng biệt là phương pháp an toàn

Mặc định Linux cài đặt thư mục /home của bạn vào root hệ thống. Chắc chắn điều này không có gì phiền hà nhưng 1) Vì đây là chuẩn nên mọi người đều có truy cập vào hệ thống và biết chính xác vị trí lưu dữ liệu của bạn; 2) Nếu máy tính chẳng may gặp sự cố, bạn có thể bị mất dữ liệu. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể đặt thư mục /home sang một ổ cứng hay một partition khác. Điều này sẽ giúp bạn luôn am tâm với dữ liệu của mình.
9. Sử dụng trình desktop ngoài chuẩn

Sử dụng máy tính với trình quản lý cửa sổ khác (Enlightenment, Blackbox, Fluxbox…) không chỉ mang lại cho bạn cái nhìn và cảm nhận mới, chúng còn có hệ thống bảo mật đơn giản trước những ánh mắt tò mò mà bạn chưa bao giờ để ý. Bạn sẽ làm thế nào? Rất đơn giản. Tạo một biểu tượng desktop của ứng dụng bạn muốn sử dụng. Trừ phi người dùng biết làm thế nào để vào dòng lệnh (bằng cách log out hoặc nhấn Ctrl + Alt + F*, với * là biểu tượng trên desktop khác với chương trình mà bạn muốn sử dụng), nếu không sẽ không thể khởi chạy bất kỳ ứng dụng nào khác ngoài ứng dụng đã đặt trước. Phần lớn người dùng không có ý tưởng về việc xem xét máy bằng mọi cách, họ sẽ không thể biết đến các file của bạn.
10. Ngừng các dịch vụ

Đây là một máy tính bàn Linux, không phải máy chủ. Vì vậy tại sao bạn phải chạy các dịch vụ như httpd, ftpd và sshd? Bạn hoàn toàn không cần chúng và còn làm tăng thêm nguy cơ bảo mật (trừ khi bạn biết làm thế nào để khóa chúng lại). Vậy thì đừng chạy chúng nữa. Kiểm tra file /etc/inetd.conf và đảm bảo rằng các dịch vụ không cần thiết đã được chú thích là đóng.

TH - HT (Theo Techrepublic)

(quantrimang.com)

Topics: *.nix, Howto | No Comments »

Quản lý blog như thế nào?

By hoang188 | July 16, 2008

Thời gian gần đây, rất nhiều câu chuyện của các blogger đã thu hút sự quan tâm của báo chí. Không ít blogger đã dùng phương tiện này để chỉ trích người khác, thậm chí đưa hình ảnh, video riêng tư của cá nhân lên.
Về cách phát tán thông tin theo hình thức này, TS Quách Tuấn Ngọc, cục trưởng cục CNTT bộ GDĐT cho biết, rất khó kiểm duyệt và phụ thuộc vào ý thức người sử dụng Internet. Bên cạnh đó, một số báo chí khi đưa tin về những sự việc đó lại không biết điểm dừng, vô hình chung làm tình hình càng rối thêm.
Về phía nhà cung cấp dịch vụ, nếu họ ở trong nước thì có thể yêu cầu chủ nhân phải cam kết chịu trách nhiệm về thông tin, nhưng với các website nước ngoài thì điều đó không thể. Thứ trưởng bộ TTTT Đỗ Quý Doãn cho biết, bất kỳ lĩnh vực gì cũng đều cần có sự quản lý. Và cần hiểu quản lý không có nghĩa là nghiêm cấm, thắt chặt mà là tạo điều kiện cho phát triển. Luật Báo Chí sửa đổi tới đây sẽ không có nội dung quản lý blog vì nếu đưa vào luật thì vô hình chung đã công nhận blog là một loại hình báo chí.
Theo ông Nguyễn Trí Dũng, phó cục trưởng cục Báo Chí bộ TTTT, một số báo chí đang làm cho công chúng ngộ nhận và lầm tưởng Nhà Nước chưa có quy định pháp luật để điều chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật đang xảy ra với một số blogger. Trong khuôn khổ luật pháp hiện hành, những vụ việc đang diễn ra hoàn toàn có thể được điều chỉnh theo các quy định của Luật Dân Sự, Luật Hình Sự, Luật Giao Dịch Điện Tử và các nghị định liên quan. Với hàng triệu blog hiện có và sẽ còn gia tăng với tốc độ nhanh trong thời gian tới thì liệu có thể kiểm tra được nội dung của từng blog trước khi cho qua cổng thông tin quốc gia hay không?
Cục Báo Chí đang cùng với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu khả năng xây dựng một văn bản pháp quy tạm thời cho việc quản lý nội dung thông tin trên blog. Việc mới chỉ là "khả năng" vì đây là một vấn đề mới, phức tạp và chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Thực tế không thành công của Trung Quốc, Malaysia và mới đây là Singapore cho thấy Việt Nam cần có thêm thời gian để nghiên cứu thấu đáo hơn. Mục đích cuối cùng là nhằm tạo điều kiện để phát triển blog, mặt khác đảm bảo mọi hoạt động của các blogger tuân thủ chế tài pháp luật hiện hành.
Tại một hội thảo về blog được tổ chức ở TP.HCM, blog đã được coi là một phương tiện trong hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ. Thông qua blog, nhiều cá nhân và nhà tuyển dụng đã tìm kiếm cơ hội làm việc với nhau. Một số nhà tuyển dụng, đặc biệt là về các dịch vụ trực tuyến đã chính thức thông báo về nhu cầu tuyển dụng blogger vào làm việc với những điều kiện rất thoáng. Theo các chuyên gia tư vấn về lao động việc l